Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016

TỒN TẠI THẾ GIỚI VÀ SỰ THỐNG NHẤT CỦA THẾ GIỚI

I. TỒN TẠI THẾ GIỚI LÀ TIỀN ĐỀ CỦA SỰ THỐNG NHẤT THẾ GIỚI:

 Khái niệm tồn tại chỉ là tiền đề xuất phát của nhận thức thế giới. Vấn đề mà nhận thức thế giới phải đi đến là quan điểm về sự tồn tại của thế giới. Để hiểu nhận định trên, ta hãy làm rõ một số khái niệm.

1. Khái niệm:

 Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, là sự phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới quan. Mỗi sự vật, hiện tượng đều bao gồm nhiều thuộc tính khác nhau, tuy nhiên, khái niệm chỉ phản ánh những thuộc tính bản chất, bỏ qua những thuộc tính riêng biệt.
Ví dụ: Ghế có những thuộc tính về màu sắc như đỏ, xanh, vàng,...; về chất liệu có nhôm, gổ,...Nhưng khái niệm chỉ phản ánh những thuộc tính của tất cả cái ghế đó là được con người làm ra và dùng để ngồi.

2. Nhận thức:

 Nhận thức là hoạt động (quá trình) con người tìm hiểu thế giới tự nhiên, trong quá trình này, con người lý giải vạn vật theo từng giai đoạn nhận thức của mình. Từ đó. tìm ra quy luật vận động và phát triển, thay đổi và tiến hóa, bản chất và hình thức, hình thành và tiêu vong của thế giới vật chất và tinh thần.

3. Quan niệm:

 Quan niêm là cách nhìn nhận đánh giá (quan niệm đúng hay sai).

 Từ đây, từ những thuộc tính bản chất của thế giới, ta làm tiền đề để hiểu những nguyên lý trong triết học và thế giới. Vấn đề của triết học là có cách nhìn nhận thức đúng đắn về thế giới.

4. Nội dung:

 Trong khi nhận thức thế giới, vấn đề đặt ra: "Thế giới quanh ta có thực hay chỉ là sản phẩm thuần túy của tư duy con người? Mọi sự vật, hiện tượng mà ta đã biết đến không phải là vĩnh viễn, vậy có thể nói tới sự tồn tại của chúng và suy rộng ra có thể nói về sự tồn tại của thế giới hay không?". Chính từ đây vấn đề thế giới tồn tại hay không tồn tại được đặt ra:
   - Thừa nhận thế giới không tồn tại thì không thể nói tới nhận thức.
   - Thừa nhận thế giới này tồn tại, từ đó cho ra đời những nhận thức thế giới khác nhau và chia thành hai trường phái chính là:
     + Chủ nghĩa duy vật: hiểu sự tồn tại của thế giới như chính thể mà bản chất của nó là vật chất,
     + Chủ nghĩa duy tâm: cho rằng thế giới chỉ là ý thức, tinh thần của con người.
 Tuy nhiên, sự thống nhất của thế giới không phải là ở tồn tại của thế giới vì trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã.

II. TÍNH THỐNG NHẤT VẬT CHẤT CỦA THẾ GIỚI:

 Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, bản chất của thế giới là vật chất và thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Điều này được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
   - Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, bản chất của thế giới là vật chất và thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và không phụ thuộc vào ý thức con người.
   - Mọi bộ phận của thế giới đều liên hệ vật chất với nhau, bởi vì chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, cùng có nguồn gốc vật chất, nguyên nhân vật chất, kết cấu vật chất, kết quả vật chất và cùng chịu sự chi phối của các quy luật khách quan của thế giới vật chất.
   - Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, không sinh ra và không mất đi, trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang diễn ra, chúng là nguyên nhân, kết quả và sự chuyển hóa của nhau.
   - Ý thức là sự phản ánh vật chất vào trong bộ não người, nó nằm trong bộ não người, nên cũng thuộc về thế giới vật chất. không thể có một thế giới thứ hai dành riêng cho ý thức.

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2016

VÌ SAO NÓI CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG DO MÁC VÀ ĂNGGHEN SÁNG LẬP LÀ HÌNH THỨC- TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CAO NHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ?

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do Mác và Ăngghen sáng lập là hình thức- trình độ phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử, vì:
 Một là, nó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong việc lý giải các tồn tại trong giới tự nhiên (như chủ nghĩa duy vật siêu hình trước đây) mà còn đứng trên lập trường duy vật trong việc giải thích các hiện tượng, quá trình diễn ra trong đời sống xã hội loài người- đó chính là những quan điểm duy vật về lịch sử hay chủ nghĩa duy vật lịch sử.
 Hai là, nó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong quá trình định hướng nhận thức và cải tạo thế giới mà còn sử dụng phương pháp biện chứng trong quá trình ấy. Từ đó tạo nên sự đúng đắn, khoa học trong việc lý giải thế giới và cải tạo thế giới.
 Ba là, mội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng trên cơ sở tổng kết những tinh hoa của lịch sử triết học và trên cơ sở tồng kết những thành tựu lớn của khoa học, của thực tiễn trong thời đại mới; nó trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp cách mạng và của các lực lượng tiến bộ thời đại ngày nay.
Trích "Hỏi và đáp môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin"

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM. CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

I. SỰ ĐỐI LẬP CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC:

1. Vấn đề cơ bản của triết học:

 Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa con người và thế giới nói chung mà trước hết và trung tâm là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.
 Vấn đề cơ bản của triết học gồm 2 mặt:
   - Mặt thứ nhất, giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Để giải quyết vấn đề này, triết học được chia thành 2 trường phái: chủ nghĩa duy vậtchủ nghĩa duy tâm.
   - Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Để giải quyết vấn đề này, triết học cũng chia thành 2 trường phái: khả tri luận (phái bao hàm những quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức của con người) và bất khả tri luận (phái bao hàm những quan điểm phủ nhận khả năng nhận thức của con người).

  • VÌ SAO MÓI MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC LÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC? (trích Hỏi & đáp môn triết học Mác- Lênin- NXB Trẻ)
 Trả lời:
   - Vật chất và ý thức được coi là hai phạm trù rộng lớn nhất của triết học. Các học thuyết phạm trù dù khác nhau, song đều có chung nội dung cơ bản về mối quan hệ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
   - Mối quan hệ giữa vật chất là ý thức là nội dung cơ bản được xác định trong đối tượng nghiên cứu của triết học.
   - Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau căn bản giữa các trào lưu triết học.
   - Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là cơ sở, nền tảng, là "chìa khóa" để giải quyết các vấn đề khác nhau trong triết học.

2. Chủ nghĩa duy tâm:

 Chủ nghĩa duy tâm cho rằng: Ý thức, tinh thần có trước, vật chất có sau; ý thức, tinh thần quyết định vật chất, còn vật chất chỉ là sản phẩm hoặc là hiện thân của ý thức.
 Chủ nghĩa duy tâm có 2 hình thức cơ bản: chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan.
   - Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: thừa nhận ý thức của con người, phủ nhận tồn tại khách quan của hiện thực; cảm giác, ý thức của con người có trước sinh ra quyết định vật chất, còn vật chất chỉ là sản phẩm của cảm giác, ý thức.
 Ví dụ: Trong bộ não con người đã có ý niệm về một bông hoa và từ ý niệm này đã sinh ra bông hoa ngoài hiện thực.
   - Chủ nghĩa duy tâm khách quan: Coi ý thức, tinh thần là ý niệm nằm bên ngoài con người là cái có trước, sinh ra và quyết định vật chất.
 Ví dụ: Đâu đó bên ngoài ý thức con người có ý niệm về một bông hoa, chính ý niệm này đã sinh ra bông hoa đó.

3. Chủ nghĩa duy vật:

 Chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức; còn ý thức là sự phản ánh của vật chất vào trong bộ não con người. Đồng thời khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới.
 Chính vì vậy, chủ nghĩa duy vật khẳng định bản chất và cơ sở tồn tại của thế giới tự nhiên và xã hội chính là vật chất.
 Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật từ thực tiễn và sự phát triễn khoa học. Chính qua thực tiễn và khái quát hóa tri thức của nhân loại trong nhiều lĩnh vực khác nhau, chủ nghĩa duy vật là hệ thống tri thức lý luận chung nhất gắn với lợi ích của các lực lượng tiến bộ, định hướng cho các lực lượng này trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

II. CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG- HÌNH THỨC PHÁT TRIỂN CAO NHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT:

 Để chứng minh chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, ta hãy cùng xét lại quá trình phát triển của các hình thức chủ nghĩa duy vật từ chủ nghĩa duy vật cổ đại, chủ nghĩa duy vật cận đại và chủ nghĩa duy vật biện chứng.

1. Chủ nghĩa duy vật cổ đại (chủ nghĩa duy vật chất phát):

 Chủ nghĩa duy vật cổ đại là hình thức sơ khái của chủ nghĩa duy vật, mang tính thô sơ, mộc mạc. Chủ yếu xuất hiện từ quan sát trực tiếp thế giới để phỏng đoán các vật thể là khởi nguyên của thế giới, và chưa có cơ sở khoa học vì khoa học lúc này chưa phát triển.
 Chủ nghĩa duy vật được thể hiện nhiều trong các học thuyết duy vật cổ đại, tiêu biểu nhất là triết học cổ đại Trung Quốc, triết học cổ đại Ấn Độ, triết học cổ đại Hy Lạp. Ta có thể lấy một số đại diện như Talet coi nước là khởi nguyên của thế giới, hay Pytago coi khởi nguyên của thế giới là những con số, thuyết ngũ hành coi khởi nguyên của thế giới từ 5 nguyên tố: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

2. Chủ nghĩa duy vật cận đại (chủ nghĩa duy vật siêu hình):

 Chủ nghĩa duy vật cận đại là hình thức cơ bản thứ hai được thể hiện tiêu biểu trong lịch sự triết học cận đại Tây Âu vào thế kỉ XVII- XVIII. Đặc điểm chủ nghĩa duy vật cận đại là phương pháp siêu hình trong nhận thức thế giới.
 Chủ nghĩa duy vật cận đại xem xét sự vật trong trạng thái tĩnh, không vận động, không thấy sự tác động qua lại của ý thức với vật chất, coi vận động là vận động cơ học, tức là chuyển địch vị trí trong không gian. Chủ nghĩa duy vật coi con người là máy móc. Trong quan điểm về giới tự nhiên thì rơi vào chủ nghĩa duy vât nhưng về xã hội thì rơi vào chủ nghĩa duy tâm.
 Tuy chưa phản ánh đúng mối quan hệ phổ biến và sự phát triển nhưng chủ nghĩa duy vật cận đại đã góp phần quan trọng trong việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo.

3. Chủ nghĩa duy vật biện chứng:

 Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác và Ăngghen sáng tạo, Lênin và những người kế tục các ông bảo vệ và phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng triệt để những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời đã khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phát thời cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại Tây Âu, đã đạt tới trình độ là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử.
 Chủ nghĩa duy vật biện chứng có những đặc điểm cơ bản sau đây:
   - Sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng.
   - Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng.
   - Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
   - Tính cách mạng.
 Trên cơ sở phản ánh đúng hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. Chủ nghĩa duy vật biện chừng được xây dựng trên cơ sở lý giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Chính vì vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật.

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016

TRIẾT HỌC VÀ NGUỒN GỐC CỦA TRIẾT HỌC

 I. NGUỒN GỐC CỦA TRIẾT HỌC:

 Vào thời xã hội nguyên thủy, để tồn tại và giải quyết những vấn đề sống còn, con người phải thích nghi với thế giới xung quanh. Nhưng con người không thích nghi một cách thụ động mà luôn tìm cách biến đổi thế giới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của họ. Họ muốn hiểu biết thế giới và họ đặt ra hàng loạt câu hỏi: Thế giới này là gì? Thế giới này từ đâu ra và sẽ đi về đâu? Con người là gì? Vị trí, vai trò của con người trong thế giới? Con người có khả năng chi phối thế giới này hay không?... Tuy nhiên do tư duy con người lúc bấy giờ hết sức lạc hậu, và để trả lời câu hỏi đó, một hình thức tri thức đầu tiên của nhân loại ra đời, đó là huyền thoại.
 Nhưng khi hoạt động thực tiễn ngày càng trở nên da dạng, phức tập, con người xuất hiện nhu cầu mới. Họ phải hiểu một cách sâu sắc về bản chất quy luật của thế giới. Họ đặt ra các câu hỏi: Vì sao có ngày và đêm, có động đất núi lửa? Vì sao có kẻ giàu, người nghèo, kẻ hạnh phúc, người bất hạnh?... Chính điều này làm cho huyền thoại trở nên bất lực và được thay thế bằng một hình thức tri thức mới là tri thức triết học.
 Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ VIII đến thế kỉ VI TCN (vào thời chiến hữu nô lệ), do nhu cầu giải quyết những vấn đề sống còn của con người và xã hội loài người do hoạt động thực tiễn của con người ngày càng trở nên da dạng, phức tạp.
 Cái nôi của triết học phương Đông là triết học Ấn Độ và triết học Trung Quốc cổ đại, chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa người với người, tìm sức mạnh ờ tinh thần, ý thức. Chính vì vậy, triết học phương Đông mang tính hướng nội. Cái nôi của triết học phương Tây là triết học Hy Lạp và triết học La mã cổ đại, chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, tìm sức mạnh của con người ở hả năng chinh phục giới tự nhiên. Chính vì vậy, triết học phương Tây mang tính hướng ngoại.

 II. KHÁI NIỆM TRIẾT HỌC:

 Trước khi triết học Mác ra đời, triết học được xem là "khoa học của các khoa học" bởi vì sự phát triển của các tri thức cụ thể về tự nhiên và xã hội còn thấp kém và sự phân ngành trong khoa học còn chưa đầy đủ.
 Theo quan niệm Mác-xít, triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
 Ta có thể thấy khái niệm triết học gồm hai yếu tố:
   - Yếu tố nhận thức: Sự hiểu biết thế giới xung quanh, sự hiểu biết các hiện tượng bằng hệ thống tư duy.
   - Yếu tố nhận thức: Vai trò của con người trong thế giới, đánh giá về mặt đạo lý để có thái độ hành động.
 Từ những "lát cắt" khác nhau, triết học có thể hiểu:
   - Triết học là hệ thống các quan điểm về thế giới (thế giới quan), về nguồn gốc, bản chất của thế giới, vị trí của con người trong thế giới, về chính bản thân và cuộc sống con người.
   - Triết học là hệ thống phương pháp (phương pháp luận) gồm phương pháp nhận thức, phương pháp thực tiễn,...
   - Triết học là hệ thống các giá trị, những chuẩn mực, những lý tưởng mà con người khác khao vươn tới nhằm hoàn thiện nhân cách.
 Tóm lại, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy), về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.