Hiển thị các bài đăng có nhãn Ăngghen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ăngghen. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1. PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ HÌNH THỨC CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG:

 1.1. Khái niệm biện chứng, phép biện chứng:

   1.1.1. Biện chứng:

 Biện chứng là khái niệm chỉ những mối liên hệ tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
 Biện chứng gồm biện chứng khách quanbiện chừng chủ quan:
   - Biện chứng khách quan là phạm trù dùng để chỉ biện chứng của bản chất bản thân sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại, độc lập và ở bên ngoài ý thức con người, được xuất phát từ tính thống nhất vật chất, là bản chất của thế giới vật chất, có nghĩa là biện chứng khách quan là mối liên hệ tượng tác, chuyển hóa và vận động, phát triển của thế giới vật chất. Chính vì vậy biện chứng khách quan chi phối toàn bộ giới tự nhiên.
   - Biện chứng chủ quan là phạm trù dùng để chỉ tư duy biện chừng và biện chứng của chính quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người. Chính vì vậy mà biện chứng chủ quan phản ánh sự chi phối của toàn bộ giới tự nhiên.

  1.1.2. Phép biện chứng:

 Phép biện chứng là học thuyết, là phản ánh biện chứng khách quan vào trong nhận thức con người, nghĩa là học thuyết nghiên cứu khái quát bản chất của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc, phương pháp của nhận thức và thực tiễn. Chính vì vậy phép biện chứng là biện chứng chủ quan- sự phản ánh biện chứng khách quan vào bộ não người. Phép biện chứng đối lập hoàn toàn với phép biện chứng siêu hình- phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập, bất biến.

 1.2. Hình thức cơ bản của phép biện chứng:

  1.2.1. Phép biện chứng chất phát thời cổ đại:

 Phép biện chứng chất phát thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng và đỉnh cao là phép biện chứng cổ đại Hy Lạp. Do trình độ khoa học lúc bấy giờ cho nên quan điểm giới tự nhiên xuất phát từ sự quan sát trực tiếp thế giới để phỏng đoán nên các quy luật vận động và chưa có cơ sở khoa học. Chính vì vậy, phép biện chứng cho thấy được bức tranh về sự chồng chịt vô vận những mối liên hệ và sự tác động, vận động và phát triển nhưng chưa làm rõ cái gì liên hệ cũng như quy luật nội tại của sự vận động và phát triển.

  1.2.2. Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức:

 Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức là hình thức thứ 2 của phép biện chứng mang tính chất duy tâm vì nó nói lên sự vận động phát triển của ý niệm tuyệt đối, được đồng nhất với bản thân sự vật, hiện tượng. Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức đã bỏ qua mối liên hệ giữa khách thể đang nghiên cứu với khách thể khác; cố định sự vật trong trạng thái hiện có, không vận động, phát triển.

  1.2.3. Phép biện chứng duy vật:


 Phép biện chứng duy vật được Mác- Ăngghen sáng tạo và được Lênin bảo vệ và phát triển. Mác và Ăngghen đã khắc phục ti1nh chất duy tâm trong phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức. Đây là hình thức cao nhất của phép biện chứng. Phép biện chứng duy vật thoát khỏi triết học duy tâm, đưa vào đó những quan điểm duy vật về tự nhiên và về lịch sử. Chính vì vậy mà phép biện chứng duy vật đã khái quát được một cách đúng đắn những quy luật vận động, phát triển chung nhất của thế giới.

2. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT:


 2.1. Khái niệm phép biện chứng duy vật:

 Phép biện chứng duy vật là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện; học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn vận động, phát triển không ngừng. Phép biện chứng duy vật đã bao hàm nội dung hết sức phong phú dù đối tượng phản ánh là thế giới vật chất vô cùng, vô tận.

 2.2. Đặc trưng của phép biện chứng duy vật:

  2.2.1. Sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng:

   - Thế giới quan là thế giới duy vật xem xét sự vật trong sự phát triển của nó.
   - Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trên nền tảng thực tiễn.

  2.2.2. Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng:

 Tính khoa học:
   - Phép biện chứng duy vật là sản phẩm của điều kiện kinh tế- xã hội, tiền đề lý luận, tác động khoa học tự nhiên, gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn.
   - Phép biện chứng phản ánh đúng đắn bản chất các quy luật, vận động, phát triển của thế giới, điều đó được thực tiễn và khoa học kiểm nghiệm.
   - Phép biện chứng duy vật là thế giới quan, phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.
 Tính cách mạng:
   - Phép biện chứng là vũ khí lý luận tinh thần của giai cấp vô sản.
   - Phép biện chứng duy vật không dừng lại việc giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới.
   - Phép biện chứng duy vật khẳng định sự tất thắng của cái mới tiến bộ.
   - Phép biện chứng duy vật không quất phục cái gì, chống lại sự nhìn nhận rập khuôn, giáo điều, bảo thủ, trì truệ.
 Tính thống nhất:
   - Tính khoa học là cơ sở, tiền đề cho tính cách mạng.
  - Không có tính khoa học thì không có tính cách mạng, trong tính khoa học chứa đựng tinh thần cách mạng, trong tính ca1ch mạng chứa nội dung khoa học. Chính vì vậy, tính khoa học càng cao, tính cách mạng càng sâu sắc và ngược lại.

  2.2.3. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:

   - Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của phép biện chứng duy vật, là tiêu chuẩn chân lý của lý luận của phép biện chứng duy vật.
   - Lý luận phép biện chứng duy vật xuất phát từ thực tiễn, phục vụ cho thực tiễn, định hướng cho sự phát triển của thực tiễn.

  2.2.4. Tính sáng tạo:

   - Phép biện chứng duy vật là hệ thống mở, nó luôn luôn phát triển bổ sung bởi các thành tựu mới của khoa học và thực tiễn xã hội.
   - Phép biện chứng duy vật đề ra các nguyên tắc, phương pháp luận để nhận thức và thực tiễn.
 Chính vì vậy mà khi vận dụng phép biện chứng duy vật cần mang tính sáng tạo.

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

1. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC:

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
 Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, còn ý thức thì tác động trở lại vật chất thống qua thực tiễn của con người. Chính vì vậy, ta có thể nói mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng.

 1.1. Vai trò của vật chất đối với ý thức:

 Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc ý thức, quyết định ý thức. Ta có thể hiểu:
   - Vật chất giữ vai trò là nguồn gốc, cơ sở và điều kiện quyết định quá trình hình thành, vận động và phát triển ý thức.
   - Vât chất giữ vai trò là cơ sở, điều kiện quyết định mọi hoạt động sáng tạo của ý thức.
 Ta nói vật chất là nguồn gốc ý thức, quyết định ý thức, vì:
   - Ý thức là sản phẩm tinh thần của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người. Chỉ có con người mới có ý thức. Chính vì vậy, vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức.
   - Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên (bộ não người), nguồn gốc xã hội ( thế giới khách quan tác động lên bộ não người gây ra hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) hoặc chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan) hoặc là những dạng tồn tại của vật chất đã chứng minh vật chất là nguồn gốc của ý thức.
   - Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất cho nên nội dung của ý thức được quyết định bới vật chất.
   - Vật chất quyết định bởi ý thức.
   - Vật chất quyết định phương thức, kết cấu của ý thức.

 1.2. Vai trò của ý thức đối với vật chất:

 Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
 Ý thức không trực tiếp thay đổi hiện thực mà qua hoạt động vật chất của con người. Tuy nhiên mọi hoạt động vật chất đều do ý thức chỉ đạo. Cho nên ý thức không trực tiếp thay đổi thế giới vật chất mà ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan. Từ ý thức có được, con người xác định mục tiêu, phương hướng cho hoạt động thực tiễn; con người xây dựng nên phương pháp, mô hình,kế hoạch tổ chức hoạt động thực tiễn.
 Ý thức có thể thúc đẩy hoặc kiềm hãm sự vận động phát triển trong những điều kiện ở mức độ nhất định:
   - Thúc đẩy: Ý thức phản ánh phù hợp với thực tiễn thì nó thúc đẩy sự phát triển của các điều kiện vật chất. Khi con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hoạt động của con người cũng phù hợp với quy luật khách quan. Từ đó con người vượt qua thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình.
   - Kiềm hãm: Ý thức phản ánh không phù hợp với thực tiễn làm hướng hoạt động của con người đi ngược với các quy luật khách quan, từ đó sẽ làm kiềm hãm sự phát triển của các điều kiện vật chất. Tuy nhiên đó chỉ mang tính tạm thời vì vật chất luôn vận động theo quy luật khách quan. Chính vì vậy, phải luôn có ý thức tiến bộ, phù hợp, thay thế cho ý thức lạc hậu, không phù hợp.
Tóm lại, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức quyết định hoạt động của con người, hoạt động thực tiễn của con người là đúng hay sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả.

2. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:

 Hoạt động nhận thức và thực tiễn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan.

 2.1. Xuất phát từ thực tế khách quan, tồn trọng thế giới khách quan:

 Có nghĩa là xuất phát từ tính khách quan, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật nhận thức và hành động theo quy luật, tôn trọng vai trò quyết định đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Chính vì vậy, con người phải nhận thức và hoạt động xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích đề ra đường lối, chủ trương chính sách, kế hoạch, biện pháp.

 2.2. Phát huy tính năng động chủ quan:

 Là phát huy vai trò tích cực năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực năng động, sáng tạo đó. Con người phải tôn trọng tri thức khoa học, tích cực học tập nghiên cứu để có thể truyền bá vào quần chúng để trở thành tri thức niềm tin. Con người phải tự giác rèn luyện, tu dưỡng để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hoạt động.

 2.3. Thực hiên nguyên tắc tôn trọng khách quan:

 Là phát huy tính năng động chủ quan trong nhận thức và thực tiễn. Phòng chống, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí- lấy ý chí đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho các đường lối, chính sác. Cần chống lại chủ nghĩa kinh nghiệm xem thường tri thức khoa học, xem thường lý luận, bảo thủ, trì truệ, thụ động trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

VẬT CHẤT VÀ HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA NÓ

I. ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT:

 1. Quá trình hình thành khái niệm vật chất:

 Trong lịch sử triết học trước Mác, hai trường phái chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đã có những khái niệm khác nhau về vật chất.

  a) Chủ nghĩa duy vật:

 Vào thời cổ đại, các nhà chủ nghĩa duy vật đã đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của nó, tức là những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài. Ta lấy ví dụ về nhà triết học Talet khi coi thực thể của thế giới là nước.
 Còn vào thời cận đại, khi khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, quan điểm siêu hình, máy móc bao trùm tất cả. Cho nên các nhà triết học coi nguyên tử (những phân tử vật chất nhỏ nhất, không phân chia được và không vận động, không gian và thời gian) là nguồn gốc thế giới. Ngoài việc họ đồng nhất vật chất với nguyên tử, họ còn đồng nhất vật chất với khối lượng coi đó là đại lượng bất biến.

 b) Chủ nghĩa duy tâm:

 Các nhà duy tâm chủ quan coi vật chất là tổng hợp của các cảm giác của con người.
Ví dụ: Từ thuở bé, chúng từng đọc câu truyện ngụ ngôn "thầy bói xem voi". Thầy sờ vòi bảo vòi voi sun sun như con đỉa. Thầy sờ ngà bảo nó dài như cái đòn càn. Thầy sờ tai bảo nó bè bè như cái quạt thóc. Và vật chất được tạo từ những cảm giác đó.
 Các nhà duy tâm khách quan coi vật chất là sản phẩm của ý niệm. Chính con người nghĩ ra vật chất.  Con người nghĩ về một bông hoa, và bông hoa trong đời thực được sinh ra từ suy nghỉ đó.
 Tôn giáo coi vật chất là sản phẩm của Chúa, Thượng đế.Ta đã từng nghe câu chuyện Thiên chúa dựng nên trời đất:
Đầu tiên Chúa đã dựng nên trời đất.
Ngày thứ nhất ngài tạo ra anh sáng.
Ngày thứ hai ngài tạo ra nước.
Ngày thứ ba ngài tạo ra cây cối.
Ngày thứ tư ngài tạo ra các ngôi sao.
Ngày thứ năm ngài tạo ra thú vật.
Ngày thứ sáu ngài tạo ra con người.
Ngày thứ bảy ngài nghỉ ngơi.

 2. Khái niệm vật chất:

  a) Quan điểm của Mác và Angghen:

   -Khi nghiên cứu phạm trù vật chất phải thông qua phạm trù đối lập của nó là phạm trù ý thức.
   -Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó.
   -Phương thức tồn tại của vật chất là vận động, không gian thời gian.
   -Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn.
   -Vật chất với tính cách là một phạm trù triết học thì không cảm tính mà chỉ cảm tính được các dạng cụ thể của vật chất mà thôi.
 Tuy nhiên do trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, các ông chưa đưa ra cụ thể về vật chất. Nhưng dựa trên nền tảng các lý luận trên, đã trở thành cơ sở nền tảng cho Lênin đưa ra các quan điểm về vật chất sau này.

b) Quan điểm của Lênin về vật chất:

 Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại con người trong cảm giác, được cảm giác con người chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
 Như vây, vật chất độc lập với ý thức, để nhận biết ta cần phải dựa vào thực tại khách quan, tức là các dạng tồn tại độc lập với con người, với cảm giác con người.
 Từ khái niệm vật chất của Lênin, ta có thể hiểu:
   -Vật chất là một phạm trù triết học. Cần phân biệt "vật chất" với tư cách là phạm trù triết học (tức là phạm trù khách quan và cơ bản nhất) với khái niệm "vật chất" được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành.
   -Vật chất là thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất, là thuộc tính tồn tại khách quan (tồn tại khách quan ngoài ý thức, độc lập không phụ thuộc vào ý thức con người).
   -Vật chất là thực tại khách quan đem  lại cho con người trong cảm giác (không lệ thuộc vào cảm giác), được cảm giác con người chụp lại, phản ánh. Và dưới một dạng cụ thể, vật chất gây nên cảm giác khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động lên giác quan của con người.
Ví dụ: Khi ta cầm một cục nước đá, tay ta cảm thấy lạnh đó là do cục nước đá đã tác động lên xúc giác con người và ngay lập tức, bộ não con người phản ánh lại với cục nước đá đó.
 Chính vì vậy, ta có thể nhận định vật chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc của cảm giác, ý thức.

  • Ý  nghĩa khái niệm vật chất của Lênin:
   -Khắc phục những hạn chế về khái niệm vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ (khắc phục những tính chất siêu hình, máy móc tron quan điểm lúc bấy giờ), khắc phục được hạn chế trong quan điểm xã hội.
  -Khẳng định tính thừ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật, khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thực tại khách quan, từ đó mở đường đi sâu vào nghiên cứu, thám phá những kết cấu phức tạp của thế giới vật chất.
   -Chống lại quan điểm tôn giáo, duy tâm về phạm trù vật chất.
   -Chống lại thuyết không thể biết.
   -Liên kết chủ nghĩ duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thành một thể thống nhất.

II. HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT:

 1. Vận động:

  a) Khái niệm vận động:

 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là một hình thức cố hữu của vật chất- bao gồm tất cả mọi sự thay đổi mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ kể từ thay đổi đơn giản đến tư duy (mọi sự thay đổi nói chung).
 Vận động là tự thân vận động, không có tác động từ bên ngoài sự vật, hiện tượng quyết định mà do mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng.
 Vận động không phải sự thay đổi thuần túy trong không gian; với sự đa dạng, phong phú, vật chất còn nhiều hình thức vận động khác nhau, phức tạp hơn nhiều.
 Vật chất gắn liền với vận động, không thể có vận động tách khỏi vật chất và cũng không có vật chất mà không có vận động. Vật chất tồn tại bằng cách vận động, trong vận động và thông qua vận động má các dạng vật chất thể hiện đặc tính riêng của mình.
 Vì vận động là phương thức tồn tại của vật chất cho nên vật chất tồn tại khách quan, không sinh ra và không mất đi. Vận động là tuyệt đối.

  b) Hình thức vận động:

 Có 5 hình thức vận động:
Hình thức vận động của vật chất
   -Vận động cơ học là vận động đơn giản nhất, là sự chuyển dịch vị trí của các vật thể trong không gian. Vận động cơ học là đối tượng nghiên cứu của cơ học.
   -Vận động vật lý là vận động của các phân tử điện tử, các hạt cơ bản, các quá trình nhiệt điện. Vận động vật lý là đối tượng nghiên cứu của lý học.
   -Vận động hóa học là sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ trong những quá trình hợp và phân giải.
   -Vận động sinh học là quá trình biến đổi các chất đặc trưng cho sự sống, sự lớn lên của cơ thể sống nhờ quá trình trao đổi chất và môi trường; sự biến đổi cấu trúc gen.
   -Vận động xã hội là sự biến đổi  các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Vận động xã hội là đối tượng nghiên cứu của các ngành khóa học như kinh tế học, chính trị học, đạo đức học.
 Ta có thể thấy các hình thức vận động được xắp sếp theo thứ tự, trình độ từ thấp lên cao tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất.
 Vận động khác nhau về chất nhưng chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau (có khả năng chuyển hóa cho nhau). Hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở hình thức vận động thấp và bao hàm những hình thức vận động thấp hơn. Sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khác nhau nhưng bản thân sự tồn tại của sự vật đó đặc trưng cho một hình thức vận động cơ bản. Ta có thể lấy một ví dụ, một cơ thể sinh vật gồm vận động cơ học, vận động vật lỳ, vận động sinh học nhưng hình thức vận động sinh học của sinh vật là đặc trưng cơ bản của sinh vật. 

  c) Đứng im:

 Đứng in mà trạng thái đặc trưng của vận động, đó là vận động trong hệ cân bằng và đứng im là hiện thượng tương đối vì chỉ xảy ra đối với một số quan hệ nhất định chứ không xảy ra với tất cả các hình thức vận động và tất cả các quan hệ, đứng im là hiện tượng tạm thời vì đứng im chì tồn tại trong thời gian nhất định chứ không tồn tại vĩnh viễn.
Ví dụ: ta có thể lấy một ví dụ như một chiếc xe đang chạy thì nếu so với chiếc xe thì con người ngổi trong chiếc xe đang đứng im, nhưng nếu so với cảnh vật xung quanh thì con người ngồi trong chiếc xe đang vận động.
 Vận động hệ cân bằng là vận động chưa làm thay đổi cơ bản về vị trí, hình thành, kết cấu của sự vật, chưa làm thay đổi cơ bản chất của sự vật.

 2. Không gian và thời gian:

 Mọi dạng cụ thể của vật chất tồn tại ở một số vị trí nhất định, có một quãng tính nhất định và tồn tại trong các mối tượng quan nhất định, đó là không gian.
 Tồn tại của sự vật được thể hiện ở quá trình biến đổi nhanh hay chậm, kế tiếp và hóa, đó chính là thời gian.
 Không gian thời gian gắn bó chặt chẽ với nhau đều là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vât chất tồn tại ngoài không gian và thời gian, cũng như không có không gian, thời gian tồn tại bên ngoài vật chất.

  • Tích chất của không gian và thời gian:
   -Tính khách quan: Vật chất tồn tại khách quan nên không gian, thời gian cũng tồn tại khách quan.
   -Tính vĩnh cữu và vô tận.
   -Tính 3 chiều của không gian (chiều rộng, chiều dài, chiều cao) và tính một chiều của thời gian (quá khứ đến hiện tại và đến tương lai)

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016

TỒN TẠI THẾ GIỚI VÀ SỰ THỐNG NHẤT CỦA THẾ GIỚI

I. TỒN TẠI THẾ GIỚI LÀ TIỀN ĐỀ CỦA SỰ THỐNG NHẤT THẾ GIỚI:

 Khái niệm tồn tại chỉ là tiền đề xuất phát của nhận thức thế giới. Vấn đề mà nhận thức thế giới phải đi đến là quan điểm về sự tồn tại của thế giới. Để hiểu nhận định trên, ta hãy làm rõ một số khái niệm.

1. Khái niệm:

 Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, là sự phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới quan. Mỗi sự vật, hiện tượng đều bao gồm nhiều thuộc tính khác nhau, tuy nhiên, khái niệm chỉ phản ánh những thuộc tính bản chất, bỏ qua những thuộc tính riêng biệt.
Ví dụ: Ghế có những thuộc tính về màu sắc như đỏ, xanh, vàng,...; về chất liệu có nhôm, gổ,...Nhưng khái niệm chỉ phản ánh những thuộc tính của tất cả cái ghế đó là được con người làm ra và dùng để ngồi.

2. Nhận thức:

 Nhận thức là hoạt động (quá trình) con người tìm hiểu thế giới tự nhiên, trong quá trình này, con người lý giải vạn vật theo từng giai đoạn nhận thức của mình. Từ đó. tìm ra quy luật vận động và phát triển, thay đổi và tiến hóa, bản chất và hình thức, hình thành và tiêu vong của thế giới vật chất và tinh thần.

3. Quan niệm:

 Quan niêm là cách nhìn nhận đánh giá (quan niệm đúng hay sai).

 Từ đây, từ những thuộc tính bản chất của thế giới, ta làm tiền đề để hiểu những nguyên lý trong triết học và thế giới. Vấn đề của triết học là có cách nhìn nhận thức đúng đắn về thế giới.

4. Nội dung:

 Trong khi nhận thức thế giới, vấn đề đặt ra: "Thế giới quanh ta có thực hay chỉ là sản phẩm thuần túy của tư duy con người? Mọi sự vật, hiện tượng mà ta đã biết đến không phải là vĩnh viễn, vậy có thể nói tới sự tồn tại của chúng và suy rộng ra có thể nói về sự tồn tại của thế giới hay không?". Chính từ đây vấn đề thế giới tồn tại hay không tồn tại được đặt ra:
   - Thừa nhận thế giới không tồn tại thì không thể nói tới nhận thức.
   - Thừa nhận thế giới này tồn tại, từ đó cho ra đời những nhận thức thế giới khác nhau và chia thành hai trường phái chính là:
     + Chủ nghĩa duy vật: hiểu sự tồn tại của thế giới như chính thể mà bản chất của nó là vật chất,
     + Chủ nghĩa duy tâm: cho rằng thế giới chỉ là ý thức, tinh thần của con người.
 Tuy nhiên, sự thống nhất của thế giới không phải là ở tồn tại của thế giới vì trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã.

II. TÍNH THỐNG NHẤT VẬT CHẤT CỦA THẾ GIỚI:

 Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, bản chất của thế giới là vật chất và thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Điều này được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
   - Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, bản chất của thế giới là vật chất và thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và không phụ thuộc vào ý thức con người.
   - Mọi bộ phận của thế giới đều liên hệ vật chất với nhau, bởi vì chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, cùng có nguồn gốc vật chất, nguyên nhân vật chất, kết cấu vật chất, kết quả vật chất và cùng chịu sự chi phối của các quy luật khách quan của thế giới vật chất.
   - Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, không sinh ra và không mất đi, trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang diễn ra, chúng là nguyên nhân, kết quả và sự chuyển hóa của nhau.
   - Ý thức là sự phản ánh vật chất vào trong bộ não người, nó nằm trong bộ não người, nên cũng thuộc về thế giới vật chất. không thể có một thế giới thứ hai dành riêng cho ý thức.

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2016

VÌ SAO NÓI CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG DO MÁC VÀ ĂNGGHEN SÁNG LẬP LÀ HÌNH THỨC- TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CAO NHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ?

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do Mác và Ăngghen sáng lập là hình thức- trình độ phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử, vì:
 Một là, nó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong việc lý giải các tồn tại trong giới tự nhiên (như chủ nghĩa duy vật siêu hình trước đây) mà còn đứng trên lập trường duy vật trong việc giải thích các hiện tượng, quá trình diễn ra trong đời sống xã hội loài người- đó chính là những quan điểm duy vật về lịch sử hay chủ nghĩa duy vật lịch sử.
 Hai là, nó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong quá trình định hướng nhận thức và cải tạo thế giới mà còn sử dụng phương pháp biện chứng trong quá trình ấy. Từ đó tạo nên sự đúng đắn, khoa học trong việc lý giải thế giới và cải tạo thế giới.
 Ba là, mội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng trên cơ sở tổng kết những tinh hoa của lịch sử triết học và trên cơ sở tồng kết những thành tựu lớn của khoa học, của thực tiễn trong thời đại mới; nó trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp cách mạng và của các lực lượng tiến bộ thời đại ngày nay.
Trích "Hỏi và đáp môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin"

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM. CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

I. SỰ ĐỐI LẬP CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC:

1. Vấn đề cơ bản của triết học:

 Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa con người và thế giới nói chung mà trước hết và trung tâm là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.
 Vấn đề cơ bản của triết học gồm 2 mặt:
   - Mặt thứ nhất, giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Để giải quyết vấn đề này, triết học được chia thành 2 trường phái: chủ nghĩa duy vậtchủ nghĩa duy tâm.
   - Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Để giải quyết vấn đề này, triết học cũng chia thành 2 trường phái: khả tri luận (phái bao hàm những quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức của con người) và bất khả tri luận (phái bao hàm những quan điểm phủ nhận khả năng nhận thức của con người).

  • VÌ SAO MÓI MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC LÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC? (trích Hỏi & đáp môn triết học Mác- Lênin- NXB Trẻ)
 Trả lời:
   - Vật chất và ý thức được coi là hai phạm trù rộng lớn nhất của triết học. Các học thuyết phạm trù dù khác nhau, song đều có chung nội dung cơ bản về mối quan hệ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
   - Mối quan hệ giữa vật chất là ý thức là nội dung cơ bản được xác định trong đối tượng nghiên cứu của triết học.
   - Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau căn bản giữa các trào lưu triết học.
   - Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là cơ sở, nền tảng, là "chìa khóa" để giải quyết các vấn đề khác nhau trong triết học.

2. Chủ nghĩa duy tâm:

 Chủ nghĩa duy tâm cho rằng: Ý thức, tinh thần có trước, vật chất có sau; ý thức, tinh thần quyết định vật chất, còn vật chất chỉ là sản phẩm hoặc là hiện thân của ý thức.
 Chủ nghĩa duy tâm có 2 hình thức cơ bản: chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan.
   - Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: thừa nhận ý thức của con người, phủ nhận tồn tại khách quan của hiện thực; cảm giác, ý thức của con người có trước sinh ra quyết định vật chất, còn vật chất chỉ là sản phẩm của cảm giác, ý thức.
 Ví dụ: Trong bộ não con người đã có ý niệm về một bông hoa và từ ý niệm này đã sinh ra bông hoa ngoài hiện thực.
   - Chủ nghĩa duy tâm khách quan: Coi ý thức, tinh thần là ý niệm nằm bên ngoài con người là cái có trước, sinh ra và quyết định vật chất.
 Ví dụ: Đâu đó bên ngoài ý thức con người có ý niệm về một bông hoa, chính ý niệm này đã sinh ra bông hoa đó.

3. Chủ nghĩa duy vật:

 Chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức; còn ý thức là sự phản ánh của vật chất vào trong bộ não con người. Đồng thời khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới.
 Chính vì vậy, chủ nghĩa duy vật khẳng định bản chất và cơ sở tồn tại của thế giới tự nhiên và xã hội chính là vật chất.
 Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật từ thực tiễn và sự phát triễn khoa học. Chính qua thực tiễn và khái quát hóa tri thức của nhân loại trong nhiều lĩnh vực khác nhau, chủ nghĩa duy vật là hệ thống tri thức lý luận chung nhất gắn với lợi ích của các lực lượng tiến bộ, định hướng cho các lực lượng này trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

II. CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG- HÌNH THỨC PHÁT TRIỂN CAO NHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT:

 Để chứng minh chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, ta hãy cùng xét lại quá trình phát triển của các hình thức chủ nghĩa duy vật từ chủ nghĩa duy vật cổ đại, chủ nghĩa duy vật cận đại và chủ nghĩa duy vật biện chứng.

1. Chủ nghĩa duy vật cổ đại (chủ nghĩa duy vật chất phát):

 Chủ nghĩa duy vật cổ đại là hình thức sơ khái của chủ nghĩa duy vật, mang tính thô sơ, mộc mạc. Chủ yếu xuất hiện từ quan sát trực tiếp thế giới để phỏng đoán các vật thể là khởi nguyên của thế giới, và chưa có cơ sở khoa học vì khoa học lúc này chưa phát triển.
 Chủ nghĩa duy vật được thể hiện nhiều trong các học thuyết duy vật cổ đại, tiêu biểu nhất là triết học cổ đại Trung Quốc, triết học cổ đại Ấn Độ, triết học cổ đại Hy Lạp. Ta có thể lấy một số đại diện như Talet coi nước là khởi nguyên của thế giới, hay Pytago coi khởi nguyên của thế giới là những con số, thuyết ngũ hành coi khởi nguyên của thế giới từ 5 nguyên tố: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

2. Chủ nghĩa duy vật cận đại (chủ nghĩa duy vật siêu hình):

 Chủ nghĩa duy vật cận đại là hình thức cơ bản thứ hai được thể hiện tiêu biểu trong lịch sự triết học cận đại Tây Âu vào thế kỉ XVII- XVIII. Đặc điểm chủ nghĩa duy vật cận đại là phương pháp siêu hình trong nhận thức thế giới.
 Chủ nghĩa duy vật cận đại xem xét sự vật trong trạng thái tĩnh, không vận động, không thấy sự tác động qua lại của ý thức với vật chất, coi vận động là vận động cơ học, tức là chuyển địch vị trí trong không gian. Chủ nghĩa duy vật coi con người là máy móc. Trong quan điểm về giới tự nhiên thì rơi vào chủ nghĩa duy vât nhưng về xã hội thì rơi vào chủ nghĩa duy tâm.
 Tuy chưa phản ánh đúng mối quan hệ phổ biến và sự phát triển nhưng chủ nghĩa duy vật cận đại đã góp phần quan trọng trong việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo.

3. Chủ nghĩa duy vật biện chứng:

 Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác và Ăngghen sáng tạo, Lênin và những người kế tục các ông bảo vệ và phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng triệt để những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời đã khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phát thời cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại Tây Âu, đã đạt tới trình độ là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử.
 Chủ nghĩa duy vật biện chứng có những đặc điểm cơ bản sau đây:
   - Sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng.
   - Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng.
   - Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
   - Tính cách mạng.
 Trên cơ sở phản ánh đúng hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. Chủ nghĩa duy vật biện chừng được xây dựng trên cơ sở lý giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Chính vì vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật.

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016

TRIẾT HỌC VÀ NGUỒN GỐC CỦA TRIẾT HỌC

 I. NGUỒN GỐC CỦA TRIẾT HỌC:

 Vào thời xã hội nguyên thủy, để tồn tại và giải quyết những vấn đề sống còn, con người phải thích nghi với thế giới xung quanh. Nhưng con người không thích nghi một cách thụ động mà luôn tìm cách biến đổi thế giới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của họ. Họ muốn hiểu biết thế giới và họ đặt ra hàng loạt câu hỏi: Thế giới này là gì? Thế giới này từ đâu ra và sẽ đi về đâu? Con người là gì? Vị trí, vai trò của con người trong thế giới? Con người có khả năng chi phối thế giới này hay không?... Tuy nhiên do tư duy con người lúc bấy giờ hết sức lạc hậu, và để trả lời câu hỏi đó, một hình thức tri thức đầu tiên của nhân loại ra đời, đó là huyền thoại.
 Nhưng khi hoạt động thực tiễn ngày càng trở nên da dạng, phức tập, con người xuất hiện nhu cầu mới. Họ phải hiểu một cách sâu sắc về bản chất quy luật của thế giới. Họ đặt ra các câu hỏi: Vì sao có ngày và đêm, có động đất núi lửa? Vì sao có kẻ giàu, người nghèo, kẻ hạnh phúc, người bất hạnh?... Chính điều này làm cho huyền thoại trở nên bất lực và được thay thế bằng một hình thức tri thức mới là tri thức triết học.
 Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ VIII đến thế kỉ VI TCN (vào thời chiến hữu nô lệ), do nhu cầu giải quyết những vấn đề sống còn của con người và xã hội loài người do hoạt động thực tiễn của con người ngày càng trở nên da dạng, phức tạp.
 Cái nôi của triết học phương Đông là triết học Ấn Độ và triết học Trung Quốc cổ đại, chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa người với người, tìm sức mạnh ờ tinh thần, ý thức. Chính vì vậy, triết học phương Đông mang tính hướng nội. Cái nôi của triết học phương Tây là triết học Hy Lạp và triết học La mã cổ đại, chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, tìm sức mạnh của con người ở hả năng chinh phục giới tự nhiên. Chính vì vậy, triết học phương Tây mang tính hướng ngoại.

 II. KHÁI NIỆM TRIẾT HỌC:

 Trước khi triết học Mác ra đời, triết học được xem là "khoa học của các khoa học" bởi vì sự phát triển của các tri thức cụ thể về tự nhiên và xã hội còn thấp kém và sự phân ngành trong khoa học còn chưa đầy đủ.
 Theo quan niệm Mác-xít, triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
 Ta có thể thấy khái niệm triết học gồm hai yếu tố:
   - Yếu tố nhận thức: Sự hiểu biết thế giới xung quanh, sự hiểu biết các hiện tượng bằng hệ thống tư duy.
   - Yếu tố nhận thức: Vai trò của con người trong thế giới, đánh giá về mặt đạo lý để có thái độ hành động.
 Từ những "lát cắt" khác nhau, triết học có thể hiểu:
   - Triết học là hệ thống các quan điểm về thế giới (thế giới quan), về nguồn gốc, bản chất của thế giới, vị trí của con người trong thế giới, về chính bản thân và cuộc sống con người.
   - Triết học là hệ thống phương pháp (phương pháp luận) gồm phương pháp nhận thức, phương pháp thực tiễn,...
   - Triết học là hệ thống các giá trị, những chuẩn mực, những lý tưởng mà con người khác khao vươn tới nhằm hoàn thiện nhân cách.
 Tóm lại, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy), về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VÀ BA BỘ PHẬN CẤU THÀNH

   1. KHÁI NIỆN CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN:

Chủ nghĩa Mác- Lênin là:
  • Hệ thống học thuyết các quan điểm và học thuyết khoa học do Mác và Ăngghen xây dựng, được Lênin bảo vệ và phát triển.
  • Hệ thống quan điểm và quan điểm được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại.
  • Hệ thống quan điểm và học thuyết đó đóng vai trò là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến cho sự sáng tạo nhận thức khoa học (nghiên cứu phát triển và sáng tạo ra cái mới) và thực tiễn cách mạng (thực tiễn cải biến cái cũ, sáng tạo cái mới).
  • Hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức bóc lột, tiến tới thực hiện sự nghiệp giải phóng con người.

     2. BA BỘ PHẬN CẤU THÀNH CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN:

Chủ nghĩa Mác- Lênin được cấu thành từ ba bộ phận lý luận cơ bản có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là; triết học Mác- Lênin, kinh tế chính trị học Mác- Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học.
  • Triết học Mác- Lênin nghiên cứu những quy luật vận động phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.
  • Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận triết học, kinh tế học chính trị Mác- Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất mới- phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
  • Chủ nghĩa xã hội khoa học là kết quả tất nhiên của sự vận dụng thế giới quan, phương pháp luận triết học và kinh tế chính trị Mác- Lênin vào việc nghiên cứu làm sáng tỏ những quy luật khách quan của quá trình cách mạng xã hội lên chủ nghĩa xã hội và tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Ba bộ phận lý luận cấu thành của chủ nghĩa Mác- Lênin có đối tượng nghiên cứu cụ thể khác nhau nhưng đều nằm trong một hệ thống lý luận khoa học thống nhất- đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức bóc lột và tiến tới giải phóng con người